Diệt gián

Gián là côn trùng thuộc bộ Blattodea.
Trong số đó, được biết đến nhiều nhất là loài gián America, Periplaneta americana, dài khoảng 30 mm; loài gián German, Blattella germanica, dài khoảng 15 mm; loài gián Asia, Blattella asahinai, dài khoảng 15 mm và loài gián Oriental, Blatta orientalis, dài khoảng 25 mm. Các loài gián vùng nhiệt đới thường có kích thước lớn. Gián thường được coi là loài gây hại, chỉ có khoảng 30 loài (ít hơn 1%) thường cư trú ở vùng nông thôn.

Lịch sử tiến hóa.
Mẫu hóa thạch cổ xưa nhất của gián được tìm thấy có niên đại vào kỷ Cacbon, khoảng 354 – 295 triệu năm trước. Tuy nhiên, những hóa thạch này khác với loài gián hiện nay vì có cơ quan sinh đẻ dài và chúng là tổ tiên của loài bọ ngựa cũng như các loài gián hiện nay. Hóa thạch đầu tiên của loài gián hiện nay với cơ quan sinh đẻ nằm bên trong có tuổi vào đầu kỷ Phấn trắng.

Đặc điểm sinh học

Gián thường sống ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Một số loài thường sống gần nơi con người cư ngụ và thường thấy ở quanh nhà xe hay trong bếp. Gián được coi là loài ăn tạp ngoại trừ loài gián chuyên ăn gỗ Cryptocercus, chúng không có khả năng tiêu hóa cellulose nhưng chúng có mối quan hệ cộng sinh với các sinh vật đơn bào và vi khuẩn giúp chúng tiêu hóa cellulose. Chúng cũng tương tự như các sinh vật đơn bào có trong mối do đó loài gián Cryptocercus được tin là có quan hệ gần gũi với loài mối hơn các loài gián khác, và các nghiên cứu khoa học gần đây đã củng cố giả thuyết này.

Gián, giống như các loài côn trùng khác, hô hấp qua hệ thống ống gọi là khí quản. Các ống khí quản này được kết nối vào với các lỗ thở, ngoại trừ phần đầu. Do vậy, các loài côn trùng, kể cả gián, vẫn có thể thở mà không có đầu. Van sẽ mở khi lượng CO2 trong cơ thể chúng tăng cao. Khi khí CO2 được thải ra ngoài cơ thể qua các ống khí quản, khí O2 sẽ được hấp thụ vào. Các ông khí quản sẽ đưa O2 vào thẳng đến tế bào.

Côn trùng không có phổi do vậy hoạt động hô hấp của chúng không giống như của động vật có xương sống. Tuy nhiên, với những côn trùng có kích thước cơ thể lớn, quá trình hô hấp như trên có thể không cung cấp đủ oxy cho chúng nên các cơ sẽ co bóp nhịp nhàng để đẩy không khí ra vào qua các ống khí quản.

Đôi khi ta có thể nhìn thấy gián cái mang bọc trứng ở phân đuôi; bọc trứng của loài gián German chứa khoảng 30-40 trứng dài và mỏng. Gián cái sẽ rời bọc trứng trước khi trứng nở. Các ấu trùng gián mới nở có màu trắng sáng và cơ thể chúng sẽ trở nên cứng cáp hơn, màu chuyển sang sậm hơn sau khoảng 4 giờ.

Từ giai đoạn trứng đến giai đoạn trưởng thành mất khoảng 3-4 tháng. Gián có thể sống đến 1 năm. Con cái có thể đẻ 8 lứa (bọc trứng) trong suốt quãng đời của nó; Ở điều kiện thuận lợi, có thể lên tới 10 lứa.

Loài gián lớn nhất thế giới hiện nay là loài Australian giant burrowing, chúng có thể dài đến 9 cm và nặng hơn 30 gr.

Gián hoạt động chủ yếu vào buổi tối và thường chạy trốn khi có ánh sáng. Đặc biệt chỉ có loài gián Oriental là bị thu hút bởi ánh sáng.

Gián nằm trong số các loài côn trùng có thể tồn tại trong môi trường khắc nghiệt, một số loài gián có khả năng sống trong vòng 1 tháng mà không cần thức ăn, hoặc có thể sống với nguồn thực phẩm hạn chế như lớp hồ dán trên con tem. Một số loài có thể sống mà không hô hấp trong thời gian 45 phút.
Người ta cho rằng gián sẽ thừa hưởng Trái đất nếu con người tự hủy hoại mình khi để xảy ra chiến tranh hạt nhân. Gián có khả năng kháng lại phòng xạ cao hơn động vật có xương sống, với liều tử có thể cao gấp 6-15 lần so với con người. Tuy nhiên, khả năng này cũng chưa thể so sánh được so với các loài côn trùng khác như loài ruồi fruit.

Hành vi.
Nghiên cứu đại học Florida cho thấy gián để lại mùi làm dấu trong phân của chúng. Những cón gián khác sẽ theo dấu vết này để tìm đến nguồn thức ăn và nguồn nước. Nghiên cứu đã cho thấy các quyết định được đưa ra dựa trên nhóm cho thấy tính phức tạp trong hành vi của gián.

Trong thí nghiệm người ta để 50 con gián vào 1 cái đĩa có 3 nơi trú ẩn với sức chứa 40 con / 1 chỗ. Gián đã phân thành 2 nhóm, với số lượng 25 con / 1 nhóm, trú trong 2 chỗ; chỗ thứ 3 để trống. Khi tăng sức chứa của nơi trú ẩn lên 50 con / 1 chỗ, tất cả số gián trên tập trung vào trong 1 nơi trú ẩn. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra sự cân bằng giữa sự hợp tác và tính cạnh tranh tồn tại trong hành vi đưa ra quyết định dựa theo nhóm của gián.

Môi trường sống.
Gián sống được trong nhiều môi trường khác nhau trên thế giới. Các loài gián thích ứng rất nhanh với sự thay đổi của môi trường nhưng thường thì chúng thích những nơi ấm áp bên trong nhà. Chỉ có khoảng 20 loài gián trong số 4.000 – 7.500 loài thích hợp để phát triển mạnh bên trong nhà.<ul>

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *